Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp
https://dthujs.vn/index.php/dthujs
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng ThápDong Thap University Journal of Sciencevi-VNTạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp0866-7675Con người Sài Gòn trong tập truyện Hỗn Kỳ Đài của nhà văn Tống Phước Bảo
https://dthujs.vn/index.php/dthujs/article/view/2152
Mục đích của nghiên cứu này là phân tích các đặc điểm nổi bật của con người Sài Gòn trong bối cảnh văn hóa xã hội đương đại qua tập truyện ngắn“Hỗn Kỳ Đài” của nhà văn Tống Phước Bảo. Phương pháp nghiên cứu sử dụng bao gồm phương pháp xã hội, lịch sử và hệ thống để phân tích mối quan hệ giữa các nhân vật trong tác phẩm và tác động của các yếu tố lịch sử và xã hội đối với đặc điểm và hành vi của nhân vật. Kết quả nghiên cứu xác định ba đặc điểm chính của con người Sài Gòn được phản ánh qua tác phẩm, bao gồm: tính kế thừa và phát triển truyền thống, tính “mở” trong sự giao lưu và tiếp thu những giá trị mới và tính tương trợ trong cộng đồng, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch. Kết quả nghiên cứu này cho thấy Tống Phước Bảo đã khéo léo tái hiện những hình ảnh đa dạng về con người Sài Gòn, với sự kết hợp giữa những giá trị truyền thống và sự thích ứng với hoàn cảnh hiện đại, từ đó làm nổi bật bản sắc và sức sống của con người Sài Gòn trong các hoàn cảnh khác nhau.Nguyễn Đào Quý ChâuNguyễn Đăng KhoaTrần Ngọc Thy Phụng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
15411310.52714/dthu.sch.2152.1795Chấn thương sinh thái trong trường ca “Lũ” (Lữ Mai)
https://dthujs.vn/index.php/dthujs/article/view/2160
Trường ca Lũ của Lữ Mai ra đời trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt. Sau một năm đầy biến động của đất nước, đặc biệt là những trận thiên tai liên tục xảy ra từ Bắc chí Nam, Lữ Mai đã viết Lũ như một cách để nhìn lại vấn đề sinh thái hôm nay; đồng thời chỉ rõ những nguy cơ sinh thái, khủng hoảng và chấn thương sinh thái. Bài báo tập trung nghiên cứu chấn thương sinh thái trong trường ca Lũ của Lữ Mai từ những khía cạnh, góc độ khác nhau như: những ký ức sinh thái, con người với những chấn thương sinh thái, những biểu tượng của chấn thương sinh thái. Từ đây, bên cạnh việc phát lộ vấn đề sinh thái trong trường ca của Lữ Mai, người viết còn nhận ra và góp phần lan toả những thông điệp về bảo vệ môi trường mà trường ca Lũ đã đặt ra.Phạm Khánh Duy
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
154142310.52714/dthu.sch.2160.1796Hình tượng lữ khách trong mối quan hệ với thiên nhiên qua thơ chữ Hán Nguyễn Đề
https://dthujs.vn/index.php/dthujs/article/view/2165
Nguyễn Đề không những được biết đến là nhân vật giữ vai trò khai mở cũng như mang lại vẻ vang cho truyền thống đi sứ của dòng họ Nguyễn Tiên Điền mà còn là nhà thơ sở hữu số lượng trước tác về đề tài sứ trình đồ sộ thời Tây Sơn. Đảm nhận nhiều trọng trách quan trọng trong bộ máy nội các triều đình nên từ sớm, ông đã gắn cuộc đời mình với kiếp sống tha hương, rong ruổi của lữ khách. Trên hành trình hoàng hoa vạn dặm, thiên nhiên là đối tượng xuất hiện phổ biến và có tác động mạnh đến tâm trạng lữ khách trong thơ chữ Hán Nguyễn Đề. Song, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa hình tượng lữ khách trong thơ ông với thiên nhiên từ trước đến nay vẫn chưa được khai thác cụ thể, hệ thống. Bằng các phương pháp nghiên cứu thi pháp, phân tích - tổng hợp, liên ngành văn học, văn hóa và hệ thống, bài viết khai thác những nỗi niềm lữ khách qua thơ ông khi đặt trong mối quan hệ với thiên nhiên. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi đối diện trước thiên nhiên, tâm trạng và ý thức lữ khách trong thơ được thể hiện qua ba đặc điểm: (1). Niềm say mê và hứng khởi trước thiên nhiên tươi đẹp, lãng mạn - (2). Nỗi u buồn và cảm giác lạc lõng trước thiên nhiên u tối, mờ mịt - (3). Động thái từ bỏ nhu cầu thưởng thức thẩm mỹ trước thiên nhiên. Từ đó, nghiên cứu này góp phần làm rõ tài thơ văn cũng như đời sống nội tâm đa tình nhưng cũng lắm u buồn, cô độc của Nguyễn Đề nơi đất khách.Nguyễn Hữu RạngVõ Thị Thu Hồng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
154243910.52714/dthu.sch.2165.1797Khai thác chất liệu văn hóa của hoa sen trong quảng bá và phát triển du lịch tỉnh Đồng Tháp
https://dthujs.vn/index.php/dthujs/article/view/2231
Hoa sen là một loài hoa không chỉ rất quen thuộc ở Việt Nam mà còn phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Hoa sen có giá trị tự nhiên, giá trị văn hóa và vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế và quảng bá du lịch tỉnh Đồng Tháp. Bài viết với mục tiêu nghiên cứu là phân tích giá trị văn hóa của hoa sen và đưa ra hướng khai thác chất liệu văn hóa của hoa sen trong quảng bá và phát triển du lịch ở Đồng Tháp. Phương pháp phân tích, tổng hợp dựa trên dữ liệu thứ cấp của các nhà nghiên cứu đi trước kết hợp phương pháp quan sát thông qua điền dã thực địa. Kết quả cho thấy hoa sen mang giá trị văn hóa, là biểu tượng cho vùng đất Đồng Tháp. Bài viết đề xuất hướng khai thác chất liệu văn hóa của hoa sen thông qua các giá trị phẩm chất con người, giá trị ký ức văn hóa và các thiết chế văn hóa gắn liền với sen, tạo nên giá trị nhận diện Đồng Tháp so với các tỉnh khác trong cả nước.Trương Thị Lam Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
154404910.52714/dthu.sch.2231.1798Làng nghề ở huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá địa phương
https://dthujs.vn/index.php/dthujs/article/view/2099
Bài viết này nghiên cứu về một số làng nghề ở huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương. Những giá trị văn hóa từ các làng nghề giúp chính quyền địa phương và các làng nghề có những chính sách phù hợp nhằm bảo tồn và phát huy truyền thống một cách hiệu quả. Thông qua các phương pháp định tính như tổng hợp phân tích tài liệu, dữ liệu thu thập, thông qua sách, báo, internet,... và điền dã thực tế, đi đến các làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Lấp Vò để quan sát, nghiên cứu các vấn đề phục vụ cho đề tài nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy tại huyện Lấp Vò, nhiều làng nghề truyền thống như làng chiếu Định Yên, làng làm thớt Định An, làng chổi lông gà Bình An không chỉ lưu giữ và phát triển những sản phẩm thủ công mỹ nghệ đặc trưng, mà còn góp phần làm nổi bật nét văn hóa Đồng Tháp nghĩa tình, năng động và sáng tạo. Những làng nghề này đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống kinh tế và xã hội địa phương, góp phần quan trọng trong việc duy trì nghề truyền thống, tạo ra thu nhập cho người dân và thúc đẩy sự phát triển bền vững, kết nối cộng đồng.Nguyễn Thị Minh SangNguyễn Thị Song Thương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
154506210.52714/dthu.sch.2099.1799Diễn ngôn tranh thương trên báo Công Luận của người Việt ở Nam Kỳ
https://dthujs.vn/index.php/dthujs/article/view/2341
Nghiên cứu khảo sát một số bài viết đăng trên báo Công Luận thập niên 20 thế kỷ XX bằng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp phân tích diễn ngôn. Qua đó, làm rõ vai trò của báo Công Luận trong việc cổ vũ tinh thần tranh thương và hình thành ý thức kinh tế dân tộc cho người Việt. Kết quả nghiên cứu, báo Công Luận đăng tải nhiều bài viết phê phán tư duy “trọng nông ức thương”; nêu ra sự trì trệ, tâm lý tự ti và thói quen tiêu dùng lệ thuộc của người Việt. Bên cạnh đó, tác giả các bài viết cổ vũ việc dùng hàng nội hóa, phát triển sản xuất công – nông nghiệp và khuyến khích lập hội đoàn để hỗ trợ thương nhân, nông dân người Việt. Bằng các lập luận và hình ảnh so sánh cụ thể, tác giả các bài viết trên báo định hướng lại tư duy làm giàu gắn với lòng yêu nước, xem kinh tế như một mặt trận quan trọng trong công cuộc chấn hưng dân tộc. Về ý nghĩa, phạm vi ảnh hưởng còn hạn chế nhưng báo Công Luận góp phần cổ vũ tinh thần cho phong trào dân tộc dân chủ của người Việt ở Nam Kỳ những thập niên đầu thế kỷ XX.Nguyễn Thế Hồng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
154637310.52714/dthu.sch.2341.1800Quản lý tri thức trong doanh nghiệp: Nội dung phỏng vấn thôi việc tại một số ngân hàng ở Việt Nam
https://dthujs.vn/index.php/dthujs/article/view/2102
Trong bối cảnh các doanh nghiệp đang dần chú trọng vào việc quản lý tri thức như một nguồn tài sản có giá trị, các cuộc phỏng vấn thôi việc cũng đang nhận được sự quan tâm của các doanh nghiệp. Phỏng vấn thôi việc là hoạt động giúp doanh nghiệp thu thập được tri thức ẩn (kinh nghiệm làm việc) từ các nhân viên sắp rời bỏ. Bài viết sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với 03 nhân viên nhân hàng và 02 quản lý ngân hàng đang làm việc tại một số ngân hàng tại Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng. Bài viết được thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khám phá với quy mô mẫu nhỏ nhằm tập trung vào việc hiểu sâu sắc kinh nghiệm và nhận thức của người tham gia phỏng vấn. Nội dung phỏng vấn nhằm phát hiện các nội dung mà các đối tượng khảo sát hỏi (đối với quản lý) hoặc được hỏi (đối với nhân viên) trong các cuộc phỏng vấn thôi việc giữa đại diện ngân hàng với nhân viên sắp nghỉ việc. Kết quả khảo sát cho thấy năm nội dung thường được các ngân hàng thu thập khi thực hiện phỏng vấn thôi việc gồm: nhận diện lý do nghỉ việc, nhận diện sự hài lòng của nhân viên với công việc và tổ chức, xem xét khả năng giữ chân nhân viên, nhận diện mối quan hệ giữa nhân viên với người quản lý trực tiếp và tránh công kích cá nhân khi thực hiện phỏng vấn thôi việc.Đoàn Thị Thu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
154748710.52714/dthu.sch.2102.1801Chính sách ngoại giao kinh tế của Hàn Quốc: Góc nhìn thông qua các hiệp định thương mại tự do
https://dthujs.vn/index.php/dthujs/article/view/2277
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh địa kinh tế, chính sách ngoại giao kinh tế của Hàn Quốc nổi bật với việc sử dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA) để thúc đẩy lợi ích quốc gia và củng cố vị thế quốc tế. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp, tập trung vào phân tích chính sách thông qua việc so sánh các FTA mà Hàn Quốc ký kết trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI: FTA với Mỹ, FTA với Trung Quốc và FTA với Việt Nam. Kết quả phân tích cho thấy KORUS FTA đã củng cố quan hệ Mỹ - Hàn về kinh tế và chiến lược, nâng cao tiêu chuẩn pháp lý và mở rộng cơ hội đầu tư song phương. FTA với Trung Quốc giúp Hàn Quốc tận dụng thị trường lớn nhưng cũng bộc lộ rủi ro chiến lược khi xảy ra xung đột chính trị. FTA với Việt Nam là minh chứng cho sự hợp tác chiến lược hiệu quả giữa Hàn Quốc và một nền kinh tế mới nổi, thúc đẩy đầu tư, thương mại mạnh mẽ. Nghiên cứu khẳng định chính sách FTA là công cụ giúp Hàn Quốc quản lý quan hệ kinh tế quốc tế linh hoạt và hiệu quả.Lê Văn Soắn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
154889910.52714/dthu.sch.2277.1802Đối chiếu phương ngữ Khmer An Giang với tiếng Khmer toàn dân: Nghiên cứu trường hợp phụ âm
https://dthujs.vn/index.php/dthujs/article/view/2379
Phụ âm là thành phần xảy ra nhiều biến thể nhất của phương ngữ Khmer Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và Phương ngữ Khmer An Giang nói riêng. Nhóm tác giả nghiên cứu sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu thành phần phụ âm của phương ngữ Khmer An Giang với Tiếng Khmer toàn dân, phân tích những sự biến đổi của chúng và tổng hợp thành những trường hợp biến thể cụ thể, hỗ trợ cho người dạy và người học xác định được những lỗi sai thường gặp phải trong thói quen giao tiếp, hướng đến việc sử dụng chuẩn ngữ nhằm đạt được hiệu quả khi sử dụng tiếng Khmer trong từng ngữ cảnh.Chau Chhay TanTS Huỳnh Thanh Tiến
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
15410011410.52714/dthu.sch.2379.1803Một số lưu ý khi sử dụng thuật ngữ “nam tính độc hại”
https://dthujs.vn/index.php/dthujs/article/view/1956
Bài báo này làm rõ những lưu ý khi sử dụng thuật ngữ “nam tính độc hại” trong nghiên cứu giới. Bằng phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu trên các tạp chí uy tín nghiên cứu về giới, nam giới và nam tính; phương pháp phân tích diễn ngôn, chúng tôi nhận thấy, “nam tính độc hại” đã chỉ ra được các khía cạnh tiêu cực của “nam tính truyền thống”, gây ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần của nam giới. Tuy nhiên, nó cũng có một số hạn chế. Thứ nhất, “nam tính độc hại” có khi được đồng nhất với “nam tính truyền thống”, dẫn đến hạ thấp nam giới; có khi được sử dụng để đối lập với “nam tính tự nhiên”, qua đó đổ lỗi cho tính độc hại là do xã hội hiện đại gây ra. Thứ hai, nó thường để nhận diện một cá nhân cụ thể và thường là những cá nhân bên lề xã hội, do đó nó cũng cá nhân hóa vấn đề bất bình đẳng giới thay vì xem đây là một vấn đề mang tính hệ thống. Theo chúng tôi khi sử dụng “nam tính độc hại” như một khái niệm phân tích cần lưu ý không sử dụng như một công cụ buộc tội mà nên sử dụng như một công cụ phê phán các định kiến giới.Phan Thị Thùy Linh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
15411512510.52714/dthu.sch.1956.1804