Chuyên san Khoa học Tự nhiên https://dthujs.vn/index.php/nsvi vi-VN Sun, 03 May 2026 00:00:00 +0700 OJS 3.2.1.1 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 Xử lý số liệu Ra-đa Xuyên đất (GPR) trong xây dựng hình ảnh các công trình dân dụng ngầm ở tầng nông https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2376 Phương pháp Ra-đa Xuyên đất (GPR) có nhiều ưu điểm vượt trội và đã chứng minh hiệu quả cao trong khảo sát các công trình, đối tượng ngầm. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất vẫn nằm ở công tác xử lý và minh giải số liệu, vốn phức tạp và đòi hỏi nhiều kinh nghiệm chuyên môn. Nghiên cứu này hướng tới xây dựng một quy trình xử lý GPR hoàn chỉnh nhằm nâng cao độ tin cậy trong việc xác định dị vật, đặc biệt là hai thông số quan trọng: độ sâu và kích thước. Chúng tôi kế thừa các bộ lọc cơ bản trong phần mềm Reflexw (dịch chuyển thời gian, lọc nhiễu, lọc tần số…), sau đó áp dụng phân tích biên độ sóng để xác định độ sâu và dịch chuyển F–K để tái tạo kích thước dị vật. Kết quả thử nghiệm cho thấy quy trình này mang lại kết quả rất khả quan, với sai số kích thước chỉ khoảng 14%, qua đó khẳng định tính hiệu quả và tiềm năng ứng dụng của phương pháp trong khảo sát công trình ngầm và nghiên cứu địa vật lý. Phạm Ngọc Thảo, Huỳnh Anh Tấn Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2376 Bước đầu nghiên cứu đánh giá hiện trạng loài Già Đẫy Java (Leptoptilos javanicus) tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2627 Nghiên cứu hiện trạng quần thể Già đẫy Java (Leptoptilos javanicus) tại Vườn quốc gia U Minh Hạ được thực hiện từ tháng 01/2024 đến tháng 07/2025 với tổng số 258 lượt điều tra/20 tuyến. Phương pháp điều tra chính được sử dụng là Phương pháp quan sát trực tiếp ngoài thiên nhiên. Kết quả điều tra cho thấy số lượng cá thể Già đẫy Java (Leptoptilos javanicus) tương đối ít, số lần ghi nhận (biến động từ 01 đến 04 cá thể) và tần suất bắt gặp rất ít (12/258 lượt điều tra). Điều này cho thấy, loài Già đẫy Java (Leptoptilos javanicus) đang rất hiếm trong khu vực, cần được ưu tiên thực hiện các biện pháp bảo tồn. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở để Vườn quốc gia U Minh Hạ đánh giá biến động loài Già đẫy Java (Leptoptilos javanicus) ở khu vực trong thời gian tới. Trần Quốc Khải, Ngô Khang Duy, Huỳnh Kiệt Anh Tuấn, Nguyễn Hoài Linh, Dương Văn Nhã, Ngô Minh Sang, Nguyễn Tấn Truyền Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2627 Các bước kiểm tra các giả định và đơn giản hóa mô hình trong các mô hình hồi quy tuyến tính nhiều biến https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2768 Mô hình hồi quy tuyến tính nhiều biến được áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như kinh tế, y học, khoa học xã hội, kỹ thuật, và nhiều lĩnh vực khác. Trong mô hình tuyến tính nhiều biến, việc đảm bảo tính hợp lệ của các giả định mô hình và đơn giản hóa mô hình là những bước quan trọng để có được kết luận chính xác và chắc chắn. Mục đích chính của bài báo là liệt kê một cách có hệ thống và kiểm tra một cách khoa học các giả định của mô hình. Bằng cách kiểm tra các giả định về tính tuyến tính, tính đồng nhất, tính chuẩn của phân phối sai số và tính đa cộng tuyến, chúng ta có thể đảm bảo mô hình hồi quy tuyến tính có thể áp dụng được cho dữ liệu. Ngoài ra, trong bài báo này chúng tôi cũng trình bày phương pháp đơn giản hóa mô hình hồi quy tuyến tính nhiều biến, đồng thời nêu bật tính tiện ích của phương pháp này trong việc tạo ra các mô hình đơn giản hơn mà vẫn giữ được tính chính xác của mô hình. Phương pháp kiểm tra các giả định và phương pháp đơn giản hóa mô hình được áp dụng vào trong dữ liệu độ chịu mài mòn của cao su. Việc áp dụng các phương pháp này vào dữ liệu về độ chịu mài mòn của cao su giúp tối ưu hóa quá trình phân tích và giúp hiểu rõ hơn về yếu tố ảnh hưởng đến độ chịu mài mòn của vật liệu này. Phạm Thị Thu Hoa, Đoàn Thị Thu Thủy, Cao Hoàng Kiệt Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2768 Tổng hợp vật liệu composite Fe2O3/CoFe2O4 với kích thước nano ứng dụng làm anode cho pin lithium – ion https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2483 Trong nghiên cứu này, vật liệu nanocomposite Fe2O3/CoFe2O4 (CFO) được tổng hợp bằng phương pháp đồng kết tủa tại các giá trị pH từ 9 đến 11 và xử lý nhiệt ở 750°C trong 3 giờ. Kết quả XRD xác nhận sự tồn tại của hai pha CoFe2O4 và Fe2O3, với mức độ kết tinh tăng khi pH tăng. Ảnh SEM cho thấy kích thước hạt giảm từ ~51 nm xuống còn ~35 nm khi pH tăng và phân bố hạt đồng đều hơn. Khi ứng dụng làm điện cực anot cho pin Li-ion, các điện cực CFO thể hiện dung lượng phóng điện cao và khả năng ổn định sau nhiều chu kỳ. Mẫu CFO_pH 10 đạt dung lượng cao nhất ở chu kỳ đầu (969.12 mAh/g) và duy trì 906.97 mAh/g sau 40 chu kỳ, với hiệu suất Coulomb gần 100% từ chu kỳ thứ hai. Sự thay đổi kích thước hạt, mức độ kết tinh và phân bố pha giữa các mẫu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất điện hóa. Kết quả cho thấy CFO là vật liệu tiềm năng thay thế than chì thương mại làm anode cho pin lithium-ion. Ngô Thị Mỹ Dung, Trần Ngọc Trung, Phan Anh Huy, Nguyễn Tuấn Lợi, Ngô Hải Đăng Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2483 Nghiên cứu nhân giống cây nhàu (Morinda citrifolia L.) bằng phương pháp hữu tính tại Thành phố Hồ Chí Minh https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2830 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc nhân giống cây Nhàu (Morinda citrifolia L.) bằng phương pháp nhân giống hữu tính, được thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy, mùa vụ gieo hạt thích hợp vào tháng 8 với tỷ lệ nảy mầm 84,44 % và tỷ lệ sống 58,89 %, chiều cao cây sau 90 ngày sau gieo đạt chiều cao 26,3 cm. Sau khi sử dụng chất điều hòa sinh trưởng GA₃ ở nồng độ 2000 ppm cho kết quả vượt trội, tỷ lệ nảy mầm là 95,56 % và tỷ lệ sống trên 81,11 %. Sinh trưởng của cây con đạt chiều cao đạt tới 32 cm. Giá thể gieo hạt tốt nhất là hỗn hợp 60 % đất sạch + 20 % xơ dừa + 20 % phân chuồng. Cây con sau 90 ngày tuổi được xác định là thời điểm tối ưu để xuất vườn, cho tỷ lệ sống sau khi trồng cao nhất 73,33 %. Nguyễn Thu Hằng, Nguyễn Minh Hùng, Đinh Ngọc Bảo, Phạm Lưu Kiều Mỹ Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2830 Khả năng và triển vọng triển khai mô hình thông tin công trình (BIM) trong lĩnh vực hạ tầng giao thông trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2574 Bài báo tập trung phân tích khả năng và triển vọng triển khai Mô hình thông tin công trình (Building Information Modeling - BIM) trong lĩnh vực hạ tầng giao thông tại tỉnh Đồng Tháp, thông qua việc rà soát khung pháp lý, các chính sách hiện hành của Chính phủ về BIM, phân tích tiềm lực hiện có của địa phương, cùng với các kế hoạch đầu tư công trên địa bàn tỉnh. Căn cứ vào đó để chỉ ra rằng việc áp dụng BIM tại Đồng Tháp đang có nhiều cơ hội thực tế để áp dụng, làm cơ sở để phát triển xa hơn trong tương lai. Nghiên cứu cung cấp cái nhìn khách quan, các cơ sở khoa học, khung pháp lý và quy định về BIM hiện có, tạo nền tảng để thúc đẩy việc triển khai rộng rãi BIM cho các công trình giao thông tại địa phương. Góp phần nâng cao hiệu quả chuyển đổi số, đầu tư và quản lý trong lĩnh vực hạ tầng giao thông trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, hướng tới mục tiêu phát triển hạ tầng bền vững và hiện đại trong kỷ nguyên chuyển đổi số của đất nước. Võ Phú Toàn, Lê Bảo Quốc Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2574 Ảnh hưởng của các mức rỉ mật đường lên thành phần hóa học của vỏ trái đậu nành rau ủ chua https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2455 Một thí nghiệm tại Trường Đại học An Giang nhằm xác định ảnh hưởng của rỉ mật đường lên chất lượng ủ chua vỏ trái đậu nành rau (ĐNR). Thí nghiệm bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức bổ sung rỉ mật đường 0, 1, 2 và 3%, mỗi nghiệm thức 4 lần lặp lại. Mỗi đơn vị thí nghiệm gồm túi ủ 2 kg vỏ trái ĐNR trong điều kiện yếm khí, theo dõi tại 0, 7, 14, 21 và 28 ngày. Kết quả cho thấy rỉ mật đường có tác động tích cực đến chất lượng ủ chua. Tại 28 ngày, pH của các nghiệm thức 0, 1, 2 và 3% lần lượt là 6,13; 4,38; 4,02 và 3,80 (P<0,05). Hàm lượng NH3-N giảm đáng kể khi bổ sung rỉ mật đường. Sau 7 ngày, NH3-N ở đối chứng cao nhất (1.046 mg/kg), trong khi các nghiệm thức bổ sung 1, 2 và 3% có hàm lượng 786, 595 và 531 mg/kg (P<0,05). Vỏ trái ĐNR nguyên liệu có vật chất khô 16,96% và protein thô 15,12%, được bảo quản tốt sau ủ chua. Nghiên cứu kết luận mức bổ sung rỉ mật đường 2% là tối ưu để sản xuất thức ăn ủ chua chất lượng cao. Phương pháp này tận dụng hiệu quả phụ phẩm nông nghiệp qua đó giảm thiểu lãng phí phụ phẩm nông nghiệp trong chăn nuôi gia súc nhai lại, đồng thời góp phần giảm phát thải khí nhà kính từ quá trình phân hủy tự nhiên của phụ phẩm, hạn chế ô nhiễm đất và nước, tạo ra mô hình kinh tế tuần hoàn bền vững và thân thiện với môi trường. Nguyễn Thị Ngọc Trang Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2455 Đánh giá sự thay đổi các mô hình sản xuất lúa tỉnh An Giang dựa trên phương pháp tích hợp ảnh radar và quang học. https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2551 Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện đóng góp hơn 90% sản lượng lúa gạo xuất khẩu của cả nước, đóng vai trò then chốt trong đảm bảo an ninh lương thực nội địa và thúc đẩy xuất khẩu nông sản của Việt Nam, trong đó An Giang là một trong những tỉnh dẫn đầu về sản xuất và cung ứng lúa gạo tại ĐBSCL. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá sự thay đổi trong mô hình canh tác lúa tại tỉnh An Giang, với hai huyện đại diện là Tri Tôn và Phú Tân. Nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân loại không giám sát dựa trên việc tích hợp chuỗi ảnh chỉ số khác biệt thực vật NDVI (Normalized Difference Vegetation Index - NDVI) và chỉ số phân cực chéo VH (Vertical transmit - Horizontal receive) của vệ tinh Sentinel-1 và Sentinel-2 trên nền tảng Google Earth Engine (GEE) để theo dõi hiện trạng các mô hình sản xuất lúa từ năm 2015 đến năm 2024. Kết quả phân tích cho thấy mô hình canh tác tại huyện Tri Tôn và Phú Tân chủ yếu là lúa 2 vụ và lúa 3 vụ, trong đó diện tích canh tác lúa 3 vụ có xu hướng giảm dần trong giai đoạn nghiên cứu. Đánh giá độ chính xác của mô hình phân loại dựa trên 136 điểm kiểm tra thực địa cho thấy độ chính xác tổng thể đạt lần lượt 97,1% và 94,1%. Những kết quả này cho thấy tiềm năng ứng dụng hiệu quả của công nghệ viễn thám và GIS trong giám sát, quản lý và hỗ trợ ra quyết định đối với các mô hình canh tác lúa tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Nguyễn Tấn Lợi, Huỳnh Thị Thu Hương, Lê Thành Được, Võ Nhật Minh Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2551 Ảnh hưởng của tần suất cho ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của ếch Thái Lan (Rana tigerina) giai đoạn nuôi thương phẩm https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2805 Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của tần suất cho ăn lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của ếch Thái Lan (Rana tigerina) nhằm xác định tần suất cho ăn thích hợp để nuôi ếch thương phẩm. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với ba nghiệm thức (NT) và 4 lần lặp lại, bao gồm NT1: 2 lần/ngày (7 giờ và 17 giờ), NT2: 3 lần/ngày (7 giờ, 12 giờ và 17 giờ), NT3: 4 lần/ngày (7 giờ, 12 giờ, 17 giờ và 22 giờ). Ếch giống (khối lượng trung bình 3,51 ± 0,21 g/con) được nuôi trong các bể composite (0,5 m3/bể) với mật độ 60 con/bể. Sau 8 tuần thí nghiệm, nghiệm thức cho ăn với tần suất 4 lần/ngày đạt tăng trưởng cao nhất (WG = 175,89 g, DWG = 3,14 g/ngày) và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với nghiệm thức cho ăn với tần suất 2 và 3 lần/ngày. Tỷ lệ sống ở nghiệm thức cho ăn 4 lần/ngày đạt cao nhất (88,33%), tuy nhiên không có sự khác biệt về mặt thống kê so với các nghiệm thức khác (p>0,05). Ngoài ra, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR = 1,05) và chi phí cho 1 kg ếch tăng trọng (21,06 nghìn đồng/kg) đạt thấp nhất ở nghiệm thức cho ăn 4 lần/ngày. Từ những kết quả thu được, tần suất cho ăn thích hợp nhất để nuôi ếch Thái Lan thương phẩm trong nghiên cứu này là 4 lần/ngày. Lê Quốc Phong Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2805 Ứng dụng vỏ quả chanh dây tím (Passiflora edulis Sims) trong chế biến trái cây sấy dẻo định hình https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2816 Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khai thác tiềm năng của vỏ quả chanh dây tím (Passiflora edulis Sims) trong chế biến sản phẩm sấy dẻo định hình. Các thí nghiệm khảo sát gồm: (i) tỷ lệ phối trộn vỏ quả và dịch quả (2:1, 4:1, 6:1), (ii) tỷ lệ bổ sung đường (25, 35, 45 °Brix) và acid citric (0,1; 0,2; 0,3%), (iii) nhiệt độ sấy (60, 70, 80°C) và thời gian sấy (3, 4, 5 giờ). Kết quả cho thấy tỷ lệ vỏ quả và dịch quả 4:1, kết hợp với đường 35 °Brix và 0,2% acid citric, tạo sản phẩm có màu đỏ cam đặc trưng, cấu trúc mềm dẻo và hương vị hài hòa. Ở điều kiện sấy tối ưu (70°C trong 4 giờ), hàm lượng anthocyanin và vitamin C được giữ ở mức tương đối cao, lần lượt đạt 20,57 mg/100 g và 11,84 mg/100 g. Các chỉ tiêu chất lượng khác như độ ẩm (16,10%), độ cứng (1,32 N) và chất lượng cảm quan đều đạt mức mong muốn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc ứng dụng vỏ quả chanh dây tím trong chế biến sản phẩm sấy dẻo không chỉ góp phần nâng cao giá trị sử dụng của phụ phẩm nông nghiệp mà còn đáp ứng xu hướng phát triển thực phẩm chức năng giàu hợp chất sinh học. Nguyễn Xuân Hồng, Đoàn Phương Linh, Nguyễn Thị Hồng Xuyên, Nguyễn Tấn Kha, Ngô Hiếu Kỳ, Phạm Thúy Nguyên Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2816 Ảnh hưởng của giống đến năng suất sinh sản của dê cái lai hướng thịt mang kiểu gen MSTN–AA https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2635 Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của giống đến năng suất sinh sản của dê cái mang kiểu gen MSTN–AA trong điều kiện chăn nuôi thực tế tại tỉnh Đồng Tháp. Tổng số 60 dê cái mang kiểu gen MSTN–AA thuộc hai nhóm giống lai Bách Thảo và lai Boer được gieo tinh nhân tạo bằng tinh đông lạnh và theo dõi suốt một chu kỳ sinh sản. Kết quả cho thấy tỷ lệ đậu thai đạt 63,3%, hệ số phối trung bình 3,13 ± 1,00 lần/con đậu thai, số con sơ sinh/lứa đạt 2,06 ± 0,25 con, thời gian mang thai trung bình 149,3 ± 2,5 ngày và tỷ lệ sống đến cai sữa đạt 98,73%. Khối lượng sơ sinh trung bình của dê con là 2,64 ± 0,46 kg, khối lượng cai sữa đạt 9,03 ± 0,81 kg, với tăng trọng bình quân 106,42 ± 13,24 g/ngày trong giai đoạn từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi. Phân tích theo giống cho thấy dê lai Boer có tăng trọng dê con cao hơn, trong khi dê lai Bách Thảo có ưu thế về khả năng sinh sản. Kiểu gen MSTN–AA thể hiện hiệu quả kép trong duy trì năng suất sinh sản và nâng cao sinh trưởng dê con theo mẹ, là chỉ thị tiềm năng cho công tác chọn lọc giống dê lai hướng thịt tại địa phương Nguyễn Thị Minh Hồng, Phan Thị Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Trần Dung Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2635 Khảo sát khả năng hấp phụ methyl orange trong nước bằng cellulose được tách từ giấy thải văn phòng https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2171 Nanocellulose (CNC) được chiết xuất thành công từ giấy thải văn phòng. Cấu trúc vật liệu nanocellulose được đặc trưng bằng các phương pháp XRD, FTIR, SEM. Kết quả cho thấy CNC có cấu trúc tinh thể cao (60,39%), bề mặt xốp, diện tích bề mặt lớn và sự hiện diện của các nhóm chức đặc trưng như -OH và C-H. Vật liệu nanocellulose được nghiên cứu hấp phụ chất màu methyl orange (MO) trong nước. Dung lượng hấp phụ MO cực đại đạt 48,26 mg/g tại pH 3 ứng với nồng độ MO ban đầu là 50 mg/L. Quá trình hấp phụ tuân theo mô hình động học biểu kiến bậc hai và đẳng nhiệt Langmuir với dung lượng cực đại tính được là 57,5 mg/g. Kết quả nghiên cứu cho thấy vật liệu CNC chiết xuất từ giấy thải văn phòng có tiềm năng ứng dụng để xử lý nước thải chứa chất màu. Lê Văn Tiền, Châu Thành Luân, Trương Nhựt Tân, Trần Thị Xuân Mai, Nguyễn Minh Thảo, Bùi Văn Thắng Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2171 Các nửa vành Js- nửa đơn https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2941 Trong bài viết này, chúng tôi mở rộng Mệnh đề 11.1 (Lam, 2001) để đặc trưng lớp các nửa vành Js-nửa đơn. Sử dụng các kết quả thu được, chúng tôi nghiên cứu thêm các tính chất của các nửa vành Js-nửa đơn. Cuối cùng, chúng tôi đưa ra một số ví dụ về nửa vành Js-nửa đơn nhằm minh họa cho các kết quả này. Phạm Quốc Thái, Lê Hoàng Mai Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2941 Tác dụng phối hợp của thực khuẩn thể HQ03 với cao chiết củ hành tím Vĩnh Châu (Allium cepa L.) ức chế vi khuẩn Escherichia coli O10:K5:H4 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2979 Thực khuẩn thể (phage) kết hợp với cao chiết thực vật đang nổi lên như giải pháp thay thế kháng sinh đầy tiềm năng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác dụng hiệp đồng giữa thực khuẩn thể và cao chiết củ Hành tím Vĩnh Châu (Allium cepa L.) trong ức chế vi khuẩn Escherichia coli O10:K5:H4. Thực khuẩn thể Escherichia phage HQ03 được phân lập từ mẫu phân gà tại Cần Thơ, có mật số 4,23 × 1011 PFU/mL và đặc hiệu với E. coli O10:K5:H4. Phân tích genome cho thấy HQ03 có kích thước 77.367 nt, thuộc Chi Kuravirus và có quan hệ tiến hóa gần gũi với Phage vB_EcoP_SU10 và Escherichia phage 172-1. Cao chiết ethanol từ củ Hành tím Vĩnh Châu đạt hiệu suất 2,46%, chứa các hợp chất organosulfur, phenolic và flavonoid. Kết quả thí nghiệm cho thấy khi kết hợp HQ03 với cao chiết Hành tím ở nồng độ 100 µg/mL, tác dụng hiệp đồng xuất hiện rõ rệt với mật số vi khuẩn giảm xuống rõ rệt so với đối chứng. Đặc biệt, hiệu quả ức chế không có sự khác biệt đáng kể giữa các MOI (1; 0,1 và 0,01), điều này cho phép sử dụng lượng phage thấp hơn 100 lần mà vẫn đạt hiệu quả tương tự. Nghiên cứu cho thấy tiềm năng của liệu pháp kết hợp phage-cao chiết thực vật bản địa trong kiểm soát nhiễm khuẩn E. coli, mở ra hướng ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm và chăn nuôi như giải pháp thay thế kháng sinh bền vững. Phạm Khánh Nguyên Huân, Lương Quốc Diện, Hà Thị Kim Quy Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2979 Ứng dụng kết hợp thuật toán đào tạo đội bóng đá và thuật toán Kepler trong bài toán quy hoạch thực nghiệm https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2437 Bài báo này trình bày một phương pháp lai nhằm nâng cao hiệu quả giải bài toán quy hoạch thực nghiệm thông qua sự kết hợp giữa thuật toán Đào tạo Bóng đá (FTTA) và thuật toán Kepler Optimization Algorithm (KOA). Trong khi KOA lấy cảm hứng từ chuyển động quỹ đạo của các thiên thể để khám phá không gian nghiệm một cách rộng rãi, FTTA lại mô phỏng chiến lược huấn luyện và thi đấu của đội bóng nhằm tăng cường khả năng khai thác tối ưu. Sự kết hợp giữa hai thuật toán giúp tận dụng được ưu điểm của cả hai: khả năng khám phá mạnh mẽ từ KOA và khả năng khai thác hiệu quả từ FTTA. Thông qua các thử nghiệm trên các mô hình quy hoạch thực nghiệm, phương pháp lai FTTA-KOA cho thấy khả năng hội tụ nhanh hơn, chính xác hơn và vượt trội so với việc sử dụng từng thuật toán riêng lẻ. Phương pháp này mở ra một hướng tiếp cận tiềm năng trong giải quyết các bài toán tối ưu phức tạp trong thực tiễn. Trần Đinh Hải Nguyên, Lê Thị Như Quỳnh, Nguyễn Đình Đức, Huỳnh Thị Bích Ngọc, Đinh Nguyễn Trọng Nghĩa Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2437 Giới hạn của mô men bậc cao cho quá trình Marov trong không gian một chiều https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2731 Nghiên cứu này nhằm chỉ ra sự tồn tại giới hạn của mô men bậc cao của quá trình Markov với thời gian liên tục trong không gian một chiều. Các đánh giá dựa trên giả thiết các cường độ chuyển đổi trạng thái hội tụ theo trung bình Cesàro. Bài báo sử dụng toán tử cực vi liên quan đến quá trình Markov như một công cụ phân tích chính để chứng minh sự tiệm cận của các mô men của quá trình đang xét. Lâm Hoàng Chương, Nguyễn Việt Trinh, Lê Quốc Hảo, Trần Hồ Bảo Hân, Nguyễn Thị Thanh Ngân, Trang Thị Hiền Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/2731 Ảnh hưởng của tỷ lệ thay thế bột gạo lứt đến tính chất vật lý và giá trị cảm quan của bánh mì https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3021 Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu là xác định ảnh hưởng của việc bổ sung bột gạo lứt trong chế biến bánh mì nhằm tạo ra sản phẩm mới đạt giá trị cảm quan cao, dễ sử dụng và dễ bảo quản. Các yếu tố được khảo sát bao gồm: hàm lượng ẩm (%), giá trị màu sắc (L*, a* và b*), tỷ lệ tăng thể tích (lần), độ cứng của vỏ bánh (N) và đánh giá cảm quan. Kết quả phân tích cho thấy khi bổ sung bột gạo lứt ở tỷ lệ 10%, sản phẩm bánh mì đạt được các chỉ tiêu chất lượng tốt nhất như: hàm lượng ẩm (33,80%), chỉ tiêu màu sắc: L* (64,70); a* (3,80) và b* (21,00), tỷ lệ tăng thể tích (6,30 lần), độ cứng của vỏ bánh (0,30 N) và điểm giá trị cảm quan cao về màu sắc (8,27); mùi (8,20); vị (8,50); cấu trúc (8,10) và sự ưa thích chung (8,47). Kết quả này cho thấy tiềm năng ứng dụng của bột gạo lứt trong chế biến bánh mì nhằm nâng cao giá trị dinh dưỡng và chất lượng sản phẩm. Tran Tieu Yen, Giáp Trâm Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3021 Đặc trưng hóa kiểu Bessaga về tính đầy đủ của không gian (q1,q2)-metric https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3120 Bài báo này chứng minh định lý Bessaga, được xem như dạng đảo của nguyên lý ánh xạ co Banach, trong một lớp không gian metric suy rộng mới là không gian (q1,q2)-metric. Mục đích chính của bài báo này là thiết lập các điều kiện để đảm bảo sự tồn tại của một (q1,q2)-metric đầy đủ trên một tập X và một ánh xạ T:X-->X cho trước. Cụ thể, bài báo chứng minh kết quả sau: Cho X là một tập khác rỗng bất kì, ánh xạ T:X-->X, hai số thực thỏa mãn q1 và q2 thỏa mãn q1>=1 và q2>=2 và số thực dương $\alpha$ thỏa $\alpha .q1, \alpha. q2 \in (0,1)$. Khi đó, nếu $T^n$ có duy nhất một điểm bất động với mọi n là số tự nhiên thì tồn tại một (q1,q2)-metric đầy đủ d sao cho d(Tx,Ty)<=d(x,y) với mọi x,y thuộc X. Kết quả này cho thấy định lý Bessaga vẫn đúng trong các không gian metric suy rộng như không gian (q1,q2)-metric. Nguyễn Hoàng Thành, Nguyễn Sỹ Thắng, Ông Hoàng Anh Kiệt Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3120 Nghiên cứu cơ chế tương tác giữa Aflatoxin B1 và các cluster vàng Aun­ (n = 2 – 6) bằng lý thuyết phiếm hàm mật độ https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3168 Lý thuyết phiếm hàm mật độ (DFT) được sử dụng để làm sáng tỏ cơ chế tương tác giữa độc tố Aflatoxin B1 (AFB1) và các cluster vàng Aun (n = 2 – 6). Các tính toán năng lượng và phân tích đặc trưng điện tử được thực hiện với phiếm hàm PBE kết hợp bộ cơ sở cc-pVDZ-PP cho vàng và cc-pVTZ cho các nguyên tử phi kim. Để mô phỏng ảnh hưởng của dung môi nước, mô hình IEF-PCM được áp dụng song song với các tính toán trong pha khí. Kết quả cho thấy AFB1 hấp phụ lên Aun (n = 2 – 6) thông qua nguyên tử oxygen, với năng lượng hấp phụ âm trong cả hai môi trường, chứng tỏ quá trình hấp phụ diễn ra tự phát. Tương tác này dẫn đến sự suy giảm đáng kể năng lượng vùng cấm ( ) của hệ, gợi mở tiềm năng ứng dụng trong cảm biến điện hóa phát hiện AFB1. Bên cạnh đó, phổ Raman tăng cường bề mặt (SERS) của phức hợp AunAFB1 thể hiện những biến đổi rõ rệt so với phân tử tự do, tạo cơ sở cho khả năng nhận diện chọn lọc AFB1 bởi hạt nano vàng. Nghiên cứu này cung cấp thông tin định lượng về đặc điểm tương tác giữa AFB1 và cluster vàng, đồng thời đề xuất tiềm năng ứng dụng trong phát triển cảm biến sinh học phục vụ giám sát an toàn thực phẩm. Nguyễn Thị Thúy Hằng, Nguyễn Thị Thu Trâm, Nguyễn Thị Diễm Kiều, Phan Hữu Nghĩa, Phạm Vũ Nhật Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3168 Bản chất của hiệu ứng hợp tác trong liên kết hydrogen khi nghiên cứu sự hấp phụ Histidine bởi ống nanocarbon https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3262 Các tính toán hóa học lượng tử cho thấy rằng khi số lượng phân tử histidine trong cụm tăng lên thì giá trị năng lượng trung bình của liên kết hydrogen cũng tăng theo. Đây là biểu hiện của tính hợp tác của các liên kết hydrogen trong các cụm histidine có kích thước khác nhau. Bản chất của tương tác này được nghiên cứu dựa trên lý thuyết phiếm hàm mật độ (DFT). Kết quả cho thấy hiện tượng này xuất phát từ sự tái phân bố mật độ electron trên các nguyên tử khi có thêm một phân tử mới. Lê Đình Tuấn, Nguyễn Phương Anh Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3262 Về đại số đường Leavitt của các đồ thị Hopf liên kết với nhóm hữu hạn https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3138 Trong bài viết này, chúng tôi khảo sát đồ thị Hopf liên kết với nhóm hữu hạn và đại số đường Leavitt liên kết với chúng. Chúng tôi chỉ ra rằng khi là nhóm hữu hạn với hàm phân nhánh thì nửa nhóm S sinh bởi giá của hàm phân nhánh là một nhóm con chuẩn tắc của . Từ đó, chúng tôi thiết lập công thức phân tích đại số đường Leavitt thành tổng trực tiếp của bản sao của . Hơn nữa, chúng tôi đưa ra điều kiện cần và đủ trên hàm phân nhánh để là vành đơn vô hạn thuần tuý, cũng như đặc trưng các điều kiện để là vành đơn, nửa đơn thông qua các tính chất của hàm phân nhánh và nhóm con . Phạm Chí Hiếu, Trần Quốc Huy, Ngô Tấn Phúc Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3138 Tối ưu hóa quá trình trích ly polyphenol tổng, flavonoid tổng và đánh giá khả năng kháng oxy hóa từ dịch chiết trái vả (ficus auriculata) với sự hỗ trợ của vi sóng https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3267 Nghiên cứu này nhằm tối ưu hóa quá trình trích ly polyphenol tổng (TPC), flavonoid tổng (TFC) và đánh giá hoạt tính kháng oxy hóa thông qua khả năng bắt gốc tự do DPPH của dịch chiết từ trái vả (Ficus auriculata) bằng phương pháp trích ly có hỗ trợ vi sóng (MAE) kết hợp với phương pháp bề mặt đáp ứng (RSM). Ba yếu tố công nghệ được khảo sát bao gồm tỷ lệ nguyên liệu:dung môi (ethanol 70%), công suất vi sóng và nhiệt độ trích ly sau vi sóng, trong đó thời gian xử lý vi sóng (60 giây) và thời gian trích ly sau vi sóng (30 phút) được giữ cố định. Kết quả tối ưu hóa cho thấy điều kiện trích ly thích hợp là tỷ lệ nguyên liệu:dung môi 1:21 g/mL, công suất 180 W và nhiệt độ 55oC. Tại điều kiện này, TPC đạt 2,923 ± 0,125 gGAE/100gCK, TFC đạt 0,164 ± 0,002 gQE/100gCK và khả năng kháng oxy hóa khá cao 88,870 ± 0,316%. Giá trị thực nghiệm sai lệch dưới 5% so với giá trị dự đoán, khẳng định độ tin cậy cao của mô hình. Kết quả nghiên cứu cho thấy trái vả là nguồn nguyên liệu tự nhiên giàu hợp chất sinh học, có tiềm năng ứng dụng làm chất chống oxy hóa trong lĩnh vực dược phẩm và thực phẩm chức năng. Phạm Thị Phương Linh, Nguyễn Ngọc Yến Nhi, Nguyễn Thị Thanh Lam, Lê Ngọc Như, Nguyễn Minh Tâm, Phạm Thị Mỹ Tiên Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3267 Nghiên cứu chất lượng nước mặt ở vùng nuôi thủy sản nội đồng tại phường Mỹ Trà, tỉnh Đồng Tháp https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3292 Nghiên cứu đánh giá chất lượng nước mặt ở 2 tuyến kênh nội đồng tại khu vực nuôi thủy sản tại phường Mỹ Trà, tỉnh Đồng Tháp vào tháng 4/2025 bằng phương pháp thu mẫu, phân tích các thông số pH, TSS, TDS, EC, DO, COD, N-NH4+, N-NO2-, TN, P-PO43- và TP của hai tuyến kênh. Chất lượng nước được so sánh với QCVN 08:2023/BTNMT, kết hợp phân tích tương quan, PCA, CA, ANOVA, T-Test để xác định ảnh hưởng của nguồn thải ở địa phương đến chất lượng nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng TSS, DO, COD, TN, TP dao động lần lượt là 50-140; 3,80-4,58; 45-150; 0,7-7,7 và 0,04-1,73 mg/L, không đạt qui định của QCVN 08:2023/BTNMT mức A, bảng 2. Sự thay đổi chất lượng nước ở các điểm quan trắc và theo chế độ triều đã cho thấy ảnh hưởng của các nguồn chất thải vào hai hệ thống kênh nhất là hoạt động nuôi thủy sản. Cần có biện pháp theo dõi, quản lý và xử lý nước thải từ các hệ thống nuôi thủy sản, cũng như tuyên truyền cho người dân về công tác quản lý nước thải và nước cấp trong nuôi thủy sản và sinh hoạt để giúp phát triển bền vững vùng nuôi thủy sản và phát triển bền vững của cộng đồng ở địa phương. Lê Diễm Kiều, Nguyễn Thanh Nhị, Lại Thi Hồng Nhung, Phạm Quốc Nguyên Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3292 Nghiên cứu trồng thử nghiệm Sâm đại hành (Eleutherine bulbosa (Mill.) Urb.) trong điều kiện khí hậu tại Thành phố Hồ Chí Minh https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3151 Sâm đại hành (Eleutherine bulbosa) một loài thực vật dược thuộc họ Lay ơn (Iridaceae) được trồng và sử dụng rộng rãi trong nền y học cổ truyền không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các quốc gia Đông Nam Á để điều trị các chứng bệnh thiếu máu, vàng da, nhức đầu, các bệnh về viêm đường hô hấp. Kết quả nghiên cứu trồng thử nghiệm sâm đại hành trong điều kiện khí hậu TP.HCM cho thấy cây sinh trưởng phát triển tốt sau 10 tháng trồng, ghi nhận trung bình chiều cao đạt 62,6 cm, có khoảng 67,3 lá/khóm, 19,8 nhánh/khóm, năng suất dược liệu đạt 4,8 tấn tươi/ha (tương đương 2,3 tấn khô/ha), đánh giá chất lượng dược liệu về đặc điểm dược liệu, độ ẩm, tỉ lệ tạp chất, tro toàn phần đều đạt theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam V, về hàm lượng hoạt chất eleutherin đạt 0,316%. Qua kết quả nghiên cứu này cho thấy sâm đại hành có thể phát triển trồng ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và khu vực Nam Bộ nói chung. Lê Đức Thanh, Phan Diễm Quỳnh, Đoàn Hữu Cường, Trần Hồng Anh, Nguyễn Thị Trúc Mai, Huỳnh Hữu Đức, Hà Thị Loan Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3151 Xây dựng và sáng tạo bài toán hình học phẳng thông qua phép nghịch đảo với sự hỗ trợ của phần mềm Geogebra https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3188 Trong bài báo này, chúng tôi trình bày một phương pháp có hệ thống để khám phá và xây dựng các bài toán hình học phẳng phức tạp. Phương pháp nghiên cứu của chúng tôi là phối hợp khám phá thực nghiệm của phần mềm GeoGebra với chứng minh logic dựa trên nền tảng lý thuyết của phép nghịch đảo. Chúng tôi giới thiệu một quy trình làm việc trong đó các công cụ tùy chỉnh được phát triển trên phần mềm GeoGebra cho phép áp dụng phép nghịch đảo (và nghịch đảo - đối xứng) lên các cấu hình hình học phức tạp. Bằng cách quan sát và kiểm chứng trực quan các tính chất của cấu hình ảnh, chúng tôi đã phát hiện và đề xuất một loạt các bài toán mới, vốn là biến thể sâu sắc của các bài toán Olympic đã biết. Bài báo này không chỉ cung cấp lời giải chi tiết cho các bài toán gốc mà còn minh họa rõ ràng quy trình trực quan hóa - phỏng đoán - chứng minh để tạo ra các bài toán mới, qua đó góp phần khẳng định vai trò của phần mềm GeoGebra như một công cụ hiệu quả cho việc nghiên cứu hình học sơ cấp. Hồ Phạm Quốc Toàn, Trần Lê Nam Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3188 Tổng hợp và khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của vật liệu nano Ag@HMSN từ vỏ trấu https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3332 Nghiên cứu trình bày quá trình tổng hợp vật liệu nano bạc trên nền silica mao quản rỗng (Ag@HMSN) từ tro trấu nhằm ứng dụng kháng khuẩn. Vật liệu HMSN được tổng hợp bằng phương pháp sử dụng P123 làm chất tạo khuôn, sau đó nạp nano bạc thông qua phản ứng khử AgNO₃ bằng citric acid. Kết quả XRD cho thấy vật liệu silica tồn tại ở dạng vô định hình và bạc được phân tán tốt trong hệ mao quản. Ảnh TEM xác nhận cấu trúc rỗng nhiều lớp với kích thước khoảng 10–25 nm, các hạt nano bạc có kích thước khoảng 22 nm, trong khi phổ EDS ghi nhận sự hiện diện của Si, O và Ag với hàm lượng bạc khoảng 1%. Kết quả thử kháng khuẩn cho thấy vật liệu Ag@HMSN có khả năng ức chế Escherichia coli và Bacillus subtilis, trong đó hiệu quả tăng theo hàm lượng bạc và mạnh hơn đối với E. coli. Nghiên cứu cho thấy Ag@HMSN là vật liệu tiềm năng cho các ứng dụng kháng khuẩn và xử lý môi trường. Trương Thị Ngọc Hân, Trần Hoài Lam, Quách Nguyễn Khánh Nguyên, Mã Phương Bảo Hân, Phạm Thị Tố Trân, Lê Phan Tường Vy Copyright (c) 2026 Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://dthujs.vn/index.php/nsvi/article/view/3332