Xây dựng sản phẩm học tập môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 hỗ trợ giáo viên dạy học phát triển năng lực khoa học cho học sinh
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Sử dụng sản phẩm học tập việc nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh là một cách tiếp cận hiệu quả đáp ứng đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Nghiên cứu này tập trung phân tích cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng sản phẩm học tập trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đề xuất nguyên tắc, quy trình thiết kế sản phẩm học tập và xây dựng một số sản phẩm minh họa thuộc hai chủ đề: Cộng đồng địa phương; Trái Đất và bầu trời. Kết quả khảo nghiệm 46 giáo viên tiểu học tại một số trường ở Thành phố Hồ Chí Minh nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các sản phẩm được thiết kế cho thấy sản phẩm học tập có tính khoa học, phù hợp nội dung chương trình, khả năng ứng dụng cao và hỗ trợ tích cực trong đánh giá năng lực học sinh và đổi mới phương pháp dạy học. Nghiên cứu góp phần khẳng định vai trò của sản phẩm học tập trong đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học hiện nay.
Từ khóa
Dạy học, đánh giá, lớp 3, môn Tự nhiên và Xã hội, sản phẩm học tập.
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018). Chương trình giáo dục phổ thông môn Tự nhiên và Xã hội.
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2020). Thông tư số 27/2020/TT-BGDĐT: Ban hành Quy định đánh giá học sinh tiểu học.
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (n.d.). Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 - Bộ sách Chân trời sáng tạo. NXB Giáo dục Việt Nam.
Bui, P., & Lương, V. (2019). Tài liệu tìm hiểu chương trình môn Tự nhiên và Xã hội (trong Chương trình Giáo dục Phổ thông 2018). Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Hà Nội.
Daniel, R. M., & David, H. A. (2017). The challenges of competence-based assessment in the educational field. University of Santiago, Chile, 43(4), 1073-1086. Retrieved from https://www.scielo.br/j/ep/a/pLbYMry5gHGZ3mvSSqX9kMj/?lang=es
Deborah, A., & Kimberly, T. (2006). Feature Approaches to Biology Teaching and Learning. Rubrics: Tools for Making Learning Goals and Evaluation Criteria Explicit for Both Teachers and Learners. Life Sciences Education, 5(3), 197-203. Retrieved from https://www.lifescied.org/doi/10.1187/cbe.06-06-0168
Dương, H. (2020). Chương trình các môn Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Lịch sử và Địa lí ở Tiểu học trong các chương trình giáo dục phổ thông mới. Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, 10(1), 21-23.
H., N. V. (2002). Lý luận dạy học. Hà Nội: NXB Giáo dục Việt Nam.
Hà, T. L. H & cs. (2024). Xây dựng công cụ đánh giá năng lực khoa học cho học sinh lớp 3 trong dạy học chủ đề Trái Đất Và bầu trời. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 69(1), 98-110. doi:10.18173/2354-1075.2024-0010
Hoàng, P. (2003). Từ điển Tiếng Việt. NXB Đà Nẵng.
Jonathan, O., & Justin, D. (2008). Science education in Europe: Cirtical Reflections. London: Nuffield Foundation.
Monhartini et al. (2021). Literature Study: Effect of Jigsaw Assisted with Mind Map on Students Learning Competencies. Bioedukasi Jurnal Oendidiilan Biologi 14(1):35. doi:10.20961/bioedukasii-uns.v14i1.43749
Nguyễn, T. S. (2019). Một số kinh nghiệm tổ chức hoạt động học cho học sinh trung học thông qua các hoạt động trải nghiệm trong môn Vật lí. Truy cập từ https://moet.gov.vn/giaoducquocdan/giao-duc-trung-hoc/Pages/Default.aspx?ItemID=6228&utm_source=chatgpt.com
Nguyễn, T. T. (2019). Tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho sinh viên sư phạm trong đổi mới giáo dục hiện nay. Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, 7(21), 34-38.
Phan, T. X. (2022). Xây dựng hồ sơ học tập để đánh giá năng lực học sinh trong môn Ngữ văn. Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, 18(2). doi:https://doi.org/10.15625/2615-8957/12210205
Trần, K. Đ. (2012). Đo lường và đánh giá trong giáo dục. Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trương, Q. H. (2022). Xây dựng hồ sơ học tập trong đánh giá học sinh tiểu học. Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, 18(8). doi:http://doi.org/10.15625/2615-8957/12210809