Hàm lượng độc tố tetrodotoxin (TTX) của cá nóc theo loài, giới tính và theo vùng biển
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Cá Nóc thuộc bộ Tetraodontiformes, là những loài cá có chứa độc tố Tetrodotoxin (TTX). Từ lâu, cá Nóc là món ăn ưa thích của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Việt Nam…và cũng từ lâu hiện tượng ngộ độc cá Nóc đã được ghi nhận. Trong những năm gần đây, xu hướng sử dụng cá Nóc làm thực phẩm ngày càng tăng và vấn đề ngộ độc cá Nóc càng diễn ra thường xuyên hơn. Vùng biển nước ta có 41 loài cá Nóc, trong đó có 21 loài được phát hiện có độc tố. Áp dụng phương pháp thử nghiệm sinh học trên chuột, nghiên cứu này đã tiến hành phân tích hàm lượng độc tố TTX của 11 loài cá nóc với tổng số 315 mẫu được thu trên các tàu khai thác ngư dân trên biển hoặc thu mua tại các cảng cá từ Bắc vào Nam. Hàm lượng trung bình độc tố TTX của các loài là 86,84 MU/g, trong đó hàm lượng cao nhất ở loài Arothron immaculatus là 284,07 MU/g và thấp nhất ở loài Lagocephalus spadiceus là 1,42 MU/g. Áp dụng phương pháp t-Test: Two Sample Assuming Unequal Variances để so sánh hàm lượng độc tố TTX giữa cá đực và cá cái cho thấy: về tổng thể hàm lượng độc tố ở cá cái cao hơn cá đực rất nhiều, sự khác nhau này có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95%, tuy nhiên khi phân tích chi tiết cho từng loài sự khác nhau có ý nghĩa chỉ được ghi nhận ở 3 loài Arothron immaculatus, Lagocephalus lunaris và Torquigener pallimaculatus. Sử dụng phân tích ANOVA một yếu tố để so sánh hàm lượng độc tố giữa 3 vùng biển trọng điểm của nước ta cho thấy: hàm lượng độc tố TTX của cá nóc ở vùng biển Trung Bộ trung bình là 114,86 MU/g; cao hơn rất nhiều so với khu vực Nam Bộ (trung bình là 72,21 MU/g), vịnh Bắc Bộ (trung bình là 18,87 MU/g). Sự khác nhau này có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95%.
Từ khóa
Arothron immaculatus, cá Nóc, độc tố TTX, Lagocephalus lunaris, Torquigener pallimaculatus
Chi tiết bài viết

Bài báo này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License.
Tài liệu tham khảo
El-Sayed, M., Yacout, G. A., El-Samra, M., Ali, A., & Kotb, S.M. (2003). Toxicity of the Red Sea pufferfish Pleuranacanthus sceleratus “El-Karad”. Ecotoxicology and Environmental Safety 56 (3), 367-372. http://doi.org/10.1016/s0147-6513(02)00142-2.
Lê, D. D., Nguyễn, V. H., & Trần, Q. Đ. (2017). Hiện trạng nguồn lợi cá nóc biển Việt Nam và vấn đề sử dụng cá nóc ở nước ta. Kỷ yếu 35 năm thành lập Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP. Hồ Chí Minh.
Itoi, S., Yoshikawa, S., Tatsuno, R., Suzuki, M., Asahini, K., Yamamoto, S., Takanashi, S., Takatani, T., Arakawa, O., Sakakura, Y., Sugita, H. (2012). Difference in the localization of tetrodotoxin between the female and male pufferfish Takifugu niphobles, during spawning. Toxicon 60 (6), 1000-1004. http://doi.org/10.1016/j.toxicon.2012.07.006.
Jang, J., & Yamashita J. J. (2006). Distribution of tetrodotoxin, saxitoxin, and their analogs among tissues of the pufer fish Fugu pardalis. Toxicon 48 (8), 980-987. http://doi.org/10.1016/j.toxicon.2006.07.034.
Kawabata, T. (1978). Puffer toxin. In: The Manual for the Method of Food Sanitation Tests. Environmental Health Bureau, 2, Japan Food Hygienic Association, Tokyo, pp. 232.
Kodama, M., Noguchi, T., Maruyama, J., & Hashimoto, K. (1983). Release of totrodotoxin and paralytic shellfish poison from puffer liver by Rnase. Biochem. 93, 243-247. http://doi.org/10.1093/oxfordjournals.jbchem.a134159.
Kotb, S. M. (1998). Biochemical studies on toxicity of Pleurancanthus scerertus (El-Karad) in the Red sea. PhD thesis, Faculty of Science, Department of Biochemistry, Alexandria University.
Nakamura, M., & Yasumoto T. (1985). Tetrodotoxin derivatives in puffer fish. Toxicon, 23(2), 271-276. http://doi.org/10.1016/0041-0101(85)90149-7
Nguyễn, H. H. (2008). Nghiên cứu độc tố trong một số loài cá Nóc độc ở biển Việt Nam. Tạp chí Viện Nghiên cứu Hải sản.
Nguyễn, V. L. (2006). Nghiên cứu độc tính cá Nóc và các giải pháp xử lý chế biến, quản lý từ khâu khai thác đến khâu tiêu thụ cá Nóc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật đề tài cấp Bộ. Bộ Thủy sản.
Sabrah, M.M., El-Ganainy, A.A., & Zaky, M.A. (2006). Biology and toxicity of the pufferfish Lagocephalus scereratus (Gmelin, 1789) from the Gulf of Suez. Egyptian Journal of Aquatic Research 32 (1), 283-297.
Suehiro, M. (1994). Historical review on chemical and medical studies of globefish toxin before World War II. Japanese Society for History of Pharmacy 29 (3), 428-434.
Trần, Đ. T. (2015). Bàn về phân vùng đới bờ biển Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, 15 (1), 1-12.
Trần, Đ. (2003). Điều tra tình hình các yếu tố liên quan và mô hình can thiệp nhằm kiểm soát ngộ độc thực phẩm do cá Nóc. Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học. Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Hà Nội, 105 trang
Các bài báo được đọc nhiều nhất của cùng tác giả
- Lê Doãn Dũng, Sinh viên Trương Thụy Thủy Tiên, Sinh viên Trần Ngọc Bích, Ảnh hưởng của một số yếu tố trong quá trình sản xuất đến chất lượng surimi từ cá nục thuôn (Decapterus macrosoma Bleeker, 1851) , Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp: Tập 14 Số 8 (2025): Chuyên san Khoa học Tự nhiên (Tiếng Việt)